Category Archives: Personal

Rapport de stage (1)

Journal de bord – Semaine 2

Chaque journée démarre par une réunion, ou plutôt, deux : celle de l’équipe artistique, suivie de celle de l’équipe globale. Les réunions durent environ de 2 à 3 heures, c’est-à-dire toute la matinée, à l’issue desquelles on remplit l’agenda (imprimé en grand format et collé au mur du bureau) par les post-it “à faire” sans vraiment prendre aucune décision. Tout est soumis à la concertation et à la décision collective de l’équipe organisatrice composée de 4 salariés et de 3 personnes en service civique, autrement dénommées “volontaires”.

Lors de la semaine précédant la soirée d’ouverture du festival, la question la plus urgente et inlassablement débattue concerne la vente de crêpes. Celle-ci se décline en plusieurs problématiques : la recette, les prix, le choix entre sucré et salé – ou plus exactement “la problématique de passer du sucré au salé”, puisque l’association ne dispose que d’une crêpière. En effet, certains membres craignent que les garnitures pour le salé, tel que le fromage, se mêlent à celles pour le sucré et altèrent son goût.

Au début de chaque réunion, la chargée de communication propose (ou impose gentiment) à l’équipe de faire un tour de table “météo”, qui consiste à parler de son état âme, son humeur, son “climat intérieur” de la journée. L’exercice est assez gênant, mais tout le monde y adhère quand même, dans une ambiance bienveillante d’écoute et de compréhension. La plupart constate simplement que “ça va” avec une légère autodérision pour cacher son embarras, ce qui suscite la critique de la maître du jeu qui considère ce moment comme un exercice d’expression de soi et exige aux autres de le prendre au sérieux. D’autres n’hésitent pas à évoquer les épreuves de leurs vies personnelles (rendu de mémoire, décès d’une proche) ; ces confidences sont systématiquement accueillies avec la plus profonde empathie de toute l’équipe, alors réunie par un sentiment d’intimité et de communion d’ordre rituel. La réunion se transforme ainsi en une session de groupe de parole, ce qui peut s’avérer être une solution plus économique pour l’argent public en matière de traitement des troubles de l’humeur en milieu professionnel.

Advertisements

There isn’t a word for everything

Khi nghĩ về nỗi buồn, tôi đoán rằng dystopia có lẽ không phải một nơi mà người ta muốn xoá bỏ nó. Mà là nơi người ta sẽ không để cho nó được “là”. Người ta sẽ phải làm những thứ như Bảo Tàng Thấu Cảm và Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Bệnh Trầm Cảm. Người ta sẽ mặc áo đẹp cho nó và biến nó thành chuyện chính trị thành công cụ bán hàng. Và người ta tin rằng họ đang tiến gần hơn tới utopia.

First breath after coma

“After all: who doesn’t wish to make a spectacle of his loneliness?”
(N. Krauss, The History of Love)

I have 18 songs by Explosions in the Sky on my playlist.

It was a friend in high school who introduced me to post-rock and ambient. On my 20th birthday, he sent me a piece composed by himself, called “lunatic experience”.

There was no story, nothing special between us. I remember us standing once on the balcony outside our classes, gazing over the courtyard and talking about things people like us talked about. I don’t know what “people like us” actually are like. I just know we’re alike.

When we went off to university, we caught up once or twice about our lives abroad. Stuff that mattered. Questions that kept us wonder. About our place in this world. And how to live without being crushed by it.

The last time we talked was one year ago. He told me about a Korean post-rock band that was opening a show in Tilburg. Although I didn’t know them, I immediately booked the ticket.

The rest was beyond words.

Now that I has mentioned the Tilburg show. It was only when I moved to the Netherlands that post-rock became my full-time companion. It fit perfectly into the kind of life that was offered to me there: open space, solitude, and freedom. It was the music for being alive. Even though I don’t really like the word “music”, since it fails to evoke the physical/corporal experience of sound.

Back then, I travelled around by train a lot. Especially in winter. The whole country was sunk in gray, which was the color of the sky, the air, and nature. I remember looking out the train window on a foggy day of March. As my vision blurred, I anticipated the end of my journey, pretending I was sitting on the train that would take me away from that land forever. And that was exactly how I would like to remember it. Those moments in transit, from nowhere to nowhere, the melancholic excitement of going somewhere while never reaching it, with Brian Eno and Explosions in the Sky enveloping it all.

The piece I listen to the most is “First Breath after Coma”.

That spring, I often forgot to breathe. I would hold my breath for a long time, and then when my dried lungs cried for air, it would feel like recovering from death all over again. It was the spring that saw a love blooming. Love took my breath away by too many sleepless nights. But, love also brought the first breath after coma.

Now and then when I listen to Explosions in the Sky, I see myself cycling along the canal and the empty fields on the outskirts of Tilburg. The memory was as fragile as what ties us to this life. And, within a blink of an eye, or perhaps less, I am reminded of all that has made me alive.

La lueur

Cette année, mon printemps est sombre.

La lumière est absente de mes photos, lesquelles sont submergées dans un bleu foncé opaque. D’une tristesse immense qui m’absorbe.

En automne, lorsque j’apercevais que les jours se sont raccourcis, j’ai pensé à ces paroles dans une chanson qui ne cessait de me hanter :

Dès les premières lueurs d’octobre, 
Oh je sombre.

Je croyais que c’était seulement l’humeur d’hiver. Et pourtant, maintenant que l’été s’approche, je n’ai pas toujours retrouvé ma lumière. Les jours sont de nouveau d’une durée interminable, tandis que mon âme se démène dans l’empire des ténèbres.

Et toi, est-ce que tu m’entends?

Le devenir

Most of the time, I can’t explain myself, i.e. giving to my thoughts, my ideas or my feelings a form that is understandable to others.

It’s not about having problems with verbal communication. I can every well explain existing information, cause it’s merely rephrasing. But it’s not the same as creating something out of nothing.

I dislike publicity of any sort. Publicity is about bringing into light, and for this, there needs to be a certain fixation of the thing. When something is fixed, it ceases to be alive.

For me, life lies in the boggy, the obscure, the unnamed, undefinable and unknown about. Life is becoming alive : it is before given an objective reality of being. I am not, I am always becoming.

không

Em không thể nói với anh về
sự tuyệt vọng này. Em yêu và
cô độc nhưng điều đó
chẳng còn nên thơ.
Mỗi chuyến xe đêm
mỗi đêm thao thức
mỗi giấc mơ
cuốn vào
giấc mơ khác
cơn khát
bừng tỉnh
em rơi xuống
một cái hố rất sâu
dưới chân em chỉ là
khoảng trống.

Em không thể nói với anh về
ngày đầu tiên của năm mới
em nhìn anh rời đi
trong giấc ngủ
anh ở lại với em được không
Em không thể nói với anh về
những ngày dài nặng nhọc
em chờ đợi
một hơi thở
anh đây
Em không thể cầm tay anh
chỉ vào
đây
là chỗ nó đau
Em không thể nói với anh về
sự thờ ơ của vũ trụ
ở phòng bên người ta đang nói
em gào thét
lặng thinh

và sự phi lý

và nỗi buồn
không được thở
nhấn chìm bởi câu từ
nỗi buồn chỉ nên câm lặng
như khoảng trống giữa các từ
giữa anh và em
quanh em
trong em
như không gian không chiều
như không còn gì cả
như không thể nói gì
về sự tuyệt vọng
hay tình yêu.

On trash

Tôi thường để ý đến những thứ người ta vứt đi, những thứ rác, phế liệu, những mảnh vỡ, vụn, từ thiên nhiên hay con người, nằm hai bên đường, trên vỉa hè, ở các chân tường, gốc cây, góc phố và mọi nơi khác tạo nên cảnh quan đô thị. Những thứ được coi là thừa, không có giá trị sử dụng, vô nghĩa, những thứ mà ta không biết tại sao chúng lại ‘end up’ ở đó, những thứ ‘decontextualized’, nghĩa là bị tách rời khỏi bối cảnh mà ở đó chúng có thể đã từng mang ý nghĩa hay chức năng nào đó. Tôi không thực sự có một mối quan tâm tạo hình (plastic) nào với chúng, bởi tôi không phải một nghệ sĩ. Tôi thích nhìn chúng như một semiologist hơn, đọc và diễn giải chúng như là những ký hiệu – ‘sign’ – bởi tôi tò mò về việc những chiếc rác đó, chúng từ đâu đến và tại sao chúng ở đó và chúng nói gì về xã hội. Tôi không coi chúng như những vật biểu đạt mà tôi sẽ gán cho những ý nghĩa biểu tượng một cách võ đoán, như một tấm màn nơi tôi chiếu lên những điều hư cấu phản chiếu cái tôi của mình. Tất nhiên mọi diễn ngôn tôi tạo ra từ chúng đều là hư cấu, mặc dù, tôi ưu ái từ ‘giả thuyết’ hơn. Nhưng có sự khác biệt trong cách tiếp cận. Rất dễ để rơi vào một thứ biểu tượng chủ nghĩa ít nhiều hoang đường. Nhưng cái tôi muốn làm là mở một cuộc điều tra, lần mò ngược lại quỹ đạo của những vật đó, quan sát sự hiện diện của chúng trong bối cảnh trực tiếp và đặt chúng vào một bối cảnh tổng quát hơn, rồi nhặt ra những yếu tố mang tính thông tin để nối lại với nhau.

Tôi đoán là với nhiều người, quá trình này xảy ra một cách khá bản năng, hoặc ít nhất là không cần đến nhiều sự ngẫm nghĩ (reflexivity) hay phát biểu lên một cách có hệ thống như là một phương pháp. Tôi đoán nó là một phần cơ bản và hiển nhiên của cái gọi là ‘sống trong thế giới này’, như là qua đường thì phải chờ đèn đỏ. Và tôi đoán là, vì tôi thường quên mất/không biết các điểm mốc của mình ở chiều không gian này, và cũng vì đa số những thứ tồn tại ở thế giới ‘bên ngoài’ là vô nghĩa với tôi – trừ những thứ người-ta-vứt-đi mà tôi mô tả ở trên, nên việc đóng vai một semiologist và tìm cách gắn những thứ đó với thế giới, có lẽ, chỉ là một nỗ lực của tôi để gắn chính mình với thế giới, để ‘sống trong thế giới này’.

Carnet d’automne

“dès les premières lueurs d’octobre
oh je sombre.”

Tôi biết mùa đông trở lại khi ánh sáng của buổi chạng vạng nhuộm xanh không khí như rót vào đó một thứ mực loãng.

Nhiều lần tỉnh giấc giữa đêm, tôi không thấy thiếu một hơi ấm bên cạnh, chỉ có ý thức rõ ràng về sự đơn độc của mình. Nỗi cô đơn mang sức nặng: đến lượt nó trở thành một cơ thể. Nó đến nằm bên tôi, ôm lấy tôi bằng hơi lạnh của nó, luồn lách vào tận cùng mọi ngõ ngách trong tôi. Tôi làm tình với nỗi cô đơn.

Cơ thể tôi đau nhức kinh khủng, năng lượng của tôi bị rút cạn, mặc cho tôi đã ngủ li bì. Nhưng tôi biết thứ nặng trĩu trong người mình không phải một cơn đau vật lý, mà là nỗi buồn. Mà cái đấy thì không chữa được. Nó chỉ hoá thành vĩnh cửu cùng một giấc ngủ thật dài.

Có lần tôi nghĩ, cái đẹp được tìm thấy trong sự tàn bạo. Hay cái đẹp chính là sự tàn bạo. Như khi tôi bước xuống xe bus đêm hôm nọ. Người tôi tê cóng vì lạnh, cái lạnh khiến các bộ phận trên cơ thể như bị phân huỷ và rụng rời ra. Về đến cổng khu nhà, tôi ngước đầu lên và thấy một bầu trời trong vắt lấp lánh sao như là giữa mùa hạ. Đẹp đến đau đớn.

Trời gió làm xôn xao những cái cây. Tôi tự hỏi có phải những cái cây cũng chỉ đợi một cơn gió đến khuấy động chuỗi ngày buồn tẻ vô vị của chúng, như cái cách mà con người chờ đợi những sự kiện chất đầy cảm xúc và kịch tính để đánh những dấu mốc ý nghĩa cho cuộc đời họ. Nhưng tôi đoán là những cái cây không đi tìm ý nghĩa. Những cái cây không xôn xao vì gió. Chỉ có tôi đi tìm ý nghĩa trong cơn gió lùa qua rặng cây. Ta là ai để nói về những cái cây? Những hoạt động đấu tranh vì các nhóm thiểu số, vì môi trường, vì hoà bình thế giới, vì công bằng trong xã hội, vì dân chủ, tất cả những gì dựa trên lòng vị tha, có phải đều là huyễn tưởng ? Ta là ai để nói về người khác? Ta chỉ có thể nói về mình mà thôi.

Tôi thường ngó vào không gian riêng của những căn nhà hai bên đường. Để cái nhìn len lỏi vào những nơi mà cơ thể không đi tới được. Chiều nay, qua một khe cổng, tôi gặp một bông hoa giấy hồng đậm vương trên lớp cỏ khô. Đáng lẽ nó chỉ bình thản ở đó như bao chiếc lá khô đủ sắc đỏ vàng khác, vốn đã trở nên quen thuộc với “paysage mental” của tôi. Đáng lẽ, tôi để nó chìm vào sự héo úa của một ngày và một mùa đang tàn. Nhưng tôi lại nhìn thấy giàn hoa giấy ở ban công nhà mình, và tất cả những giàn hoa giấy trong tất cả những căn nhà ở Hà Nội tôi từng gặp trong đời. Tôi nhìn thấy những mùa hè bỏng rát. Tôi nhìn thấy cả một cuộc sống đã xa, một sự trong trẻo đã mất. Bông hoa giấy nằm đó, xa lạ và lạc lõng, như những ký ức về quê hương trong tôi.

 

L’attente

J’attends mon amie à la sortie du métro. Le vent humide et légèrement glacial traverse mes cheveux. Je m’assieds sur un bord de mur et reprends ma lecture. Il s’agit d’un recueil de nouvelles de Le Clézio, mon auteur préféré. Des “faits divers” transformés en récits poétiques et brûlants sur des vies en fuite. Je m’évade tout de suite vers des terres lointaines, dénudées et abandonnées. Le temps de la lecture rallonge ainsi la “vraie” durée de mon attente.

Depuis que je suis arrivée à P., j’ai appris à lire dans n’importe quel endroit et à n’importe quel moment. Souvent, mes temps de lecture correspondaient à mes temps d’attente. Souvent, j’attendais une seule chose. Et souvent, j’attendais devant les entrées du métro. Alors, aujourd’hui, quand j’attends mon amie, je me sens emportée vers un autre espace-temps (au sens anthropologique du terme), et plus spécifiquement, vers la ville que je viens de quitter. J’ai l’impression d’attendre la même chose que j’ai attendue tant de fois là-bas. Désormais, peu importe où je suis, ce sera mon unique objet d’attente. Et je tarde à quitter le livre des yeux, à mettre fin à mon attente, afin de rester dans cet univers où ce sera toujours toi que je voir arriver lorsque je lève la tête.